
Triết học và Tư duy phản biện
Podcast này giúp rèn luyện tư duy phản biện thông qua các câu hỏi và vấn đề triết học kinh điển. Người dẫn chương trình Đạt Vũ khám phá những chủ đề sâu sắc, khuyến khích người nghe suy nghĩ một cách phản biện. Mỗi tập đều tập trung vào một khía cạnh của triết học, từ logic đến đạo đức. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai muốn phát triển kỹ năng tư duy.
Episodes
Bài 33: Giả khoa học và Dở khoa học
Bài trước, ta đã tìm hiểu một cách tổng quát về phương pháp của khoa học. Nhưng có những thứ nhìn thì giống khoa học, nhưng lại không tuân theo một quy trình của khoa học theo cách mà giúp ta tự tin hơn trong những phát biểu tri thức. Những thứ này được gọi là giả khoa học (pseudoscience).Ví dụ về giả khoa học có thể kể đến danh sách dài như: vi lượng đồng căn, chiêm tinh học, phân tích chữ viết t
Bài 32: Phương pháp của khoa học và phép kiểm sai
Phương pháp của khoa họcTrong phần 4 của khóa học, chúng ta đã thấy được những lợi ích của việc cùng nhau xác minh các tri thức. Tổng kết lại, ta đã nói về: việc cải thiện độ chính xác khi khái quát hóa, khả năng phát hiện lỗi, tính tái sử dụng và độ tin cậy, bộ khung giải thích và thiên kiến nhận thức.Trong mỗi các trường hợp này, ta thấy rằng việc hợp tác có thể giúp mỗi người tự tin hơn về nhữn
Bài 31: Thiên kiến nhận thức và ngụy biện logic
Chúng ta vẫn thường có nhiều hoài nghi về các phát biểu tri thức. Và đó là khi chúng ta giả định rằng bộ não của chúng ta hoạt động bình thường. Nhưng trên thực tế, chúng ta hay mắc phải những lỗi mang tính hệ thống trong tư duy. Những lỗi này rất khó để nhận ra chứ chưa nói đến việc sửa chữa chúng. Những lỗi như thế này được gọi là thiên kiến nhận thức (coginitive bias). Chúng có thể kiến chúng t
Bài 30: Tuân thủ quy tắc
Khi tư duy hay lý luận về điều gì đó, chúng ta sử dụng các khái niệm. Chúng ta gọi con dao là con dao và cái bút là cái bút, và cố gắng không nhầm lẫn giữa 2 khái niệm này. Nếu ta gọi con dao là cái bút hay ngược lại, chúng ta đã mắc lỗi và nên sẵn sàng sửa chữa. Khi áp dụng những khái niệm và các thuật ngữ của một loại ngôn ngữ tự nhiên, dường như chúng ta đang tuân theo những quy tắc nhất định.
Bài 29: Reasoning vs Logic
Khi tư duy về quy tắc (rules), các triết gia phân biệt giữa quy tắc cấu thành (constitutive rules) và quy tắc không cấu thành (non-constitutive rules) hay quy định (regulative rules). Quy tắc cấu thành là những quy tắc quyết định sự tồn tại của bản thân một loại hình hoạt động nhất định nào đó. Nếu không có quy tắc chơi cờ vua, thì bộ môn cờ vua không tồn tại. Một người có thể di chuyển một vật th
Bài 28: Bộ khung giải thích
Con người là những sinh vật có khả năng kể chuyện một cách tài ba. Chúng ta có thể dùng mọi cách để liên kết các thông tin mình có được để hiểu hơn về thế giới xung quanh ta, cả thế giới tự nhiên lẫn thế giới nhân văn.Dưới đây là một ví dụ. Hãy nhìn vào những nhóm từ này:Dòng sông – Con thuyền – Cô gáiCây bút – Mặt bànĐiện thoại – Bao thuốc lá – Người đàn ôngChậu nước – Con vịt – Đứa trẻ – Tiếng t
Bài 27: ‘Oughts’ and ‘Is’-es
Ở bài 25, ta đã nhắc đến việc suy nghĩ hợp lý cần ít nhất là tuân theo những tiêu chuẩn hay quy tắc của việc tư duy tốt, và một người phải chịu trách nhiệm khi suy nghĩ hay hành động của họ không đi theo những tiêu chuẩn hay quy tắc (norms or rules) này. Nhưng như thế nào là một quy tắc và như thế nào là tuân thủ (hoặc cố gắng tuân thủ) một quy tắc?Câu hỏi này khó mà trả lời đầy đủ nhưng ít nhất t
Bài 26: Intersubjectivity, đoàn kết là sức mạnh!
Ở những bài học trước, chúng ta đã nhận thấy tri thức có nhiều vấn đề hơn chúng ta thường nghĩ. Không những khó để cắt nghĩa tri thức là gì, mà còn rất nhiều lý do để nghi ngờ những gì mà chúng ta nghĩ rằng mình biết về thế giới xung quanh.Chúng ta đã cố tìm những nền tảng cho tri thức của chúng ta bằng cách hướng về kinh nghiệm và cả những suy nghĩ nội tâm, nhưng vẫn có nhiều thứ phải hoài nghi.
Bài 25: Những nguyên tắc của việc tư duy tốt
Bạn đến một ngã tư có đèn tín hiệu. Đèn xanh chưa sáng nhưng lúc đó bạn thấy đường phố không một bóng người. Bạn nảy ra ý định vượt đèn đỏ và tự nhủ “chỉ một lần này thôi, mọi ngày mình không như vậy.”Nhưng bạn cảm thấy có một bàn tay vô hình kéo bạn lại. Câu nói “ĐỪNG VƯỢT ĐÈN ĐỎ!” lóe lên trong tâm thức khiến bạn chùn chân. Tất cả điều này có nghĩa là gì? Tại sao một thứ vô hình lại có một sức ả
Bài 24: Những cách tiếp cận vấn đề nhân quả khác Hume (Non-Humean)
Khi cố gắng giải thích mối quan hệ nhân quả, David Hume đã tiếp cận vấn đề theo hướng các sự kiện có sự nối tiếp nhau về mặt thời gian. Nhưng theo một số triết gia, các tiếp cận này gây ra nhiều vấn đề hơn là giải quyết được nó.Đây là một số ý kiến đi ngược lại với quan điểm của HumeMột số nguyên nhân tỏ ra không được thường xuyên (regular) hoặc không hoàn hảo. Chúng ta thường nghĩ rằng hút thuốc
Bài 23: Quan hệ nhân quả (cause and effect)
Hãy xem xét những tình huống thực tiễn sau đây:Một thằng nhóc ném một viên đá, viên đá đập vào cửa sổ và kính cửa sổ vỡ.Một đầu bếp thái hành và chảy nước mắtMột người làm vườn quên tưới nước cho cây, cái cây đó chết héo.Một cầu thủ bóng đá lỡ chạm tay vào bóng trong vòng 16m 50. Đội của anh nhận một quả phạt đền và bị thua chung cuộc với tỉ số 0-1 (bàn thắng được ghi từ quả phạt đền này).Đèn giao
Bài 22: Vấn đề của phép quy nạp
Việc nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp quy nạp, cụ thể là khái quát hóa.Khái quát hóa có nhiều hình thức khác nhau, nhưng tựu chung lại nó có dạng như sau:Từ quan sát các trường hợp đơn lẻ đi đến kết luận chung. Ví dụ, mỗi con quạ mà tôi từng bắt gặp đều màu đen, do đó tất cả các con quạ đều màu đen.Từ quan sát tổng thể, đi đến kết luận từng trường hợp đơn lẻ. Tất cả những co
Bài 21: Chủ nghĩa phản thực
Bên cạnh những người tin vào khoa học, tin rằng khoa học có thể giúp tìm ra sự thật về những thực thể không quan sát được thì cũng có những người tỏ thái độ hoài nghi đối với khoa học. Những người này được gọi là anti-realist và quan điểm của họ được gọi là anti-realism.Những nghi ngờ mà những người anti-realist đưa ra chủ yếu tập trung vào khía cạnh dữ liệu của các học thuyết khoa học. Những nghi
Bài 20: Chủ nghĩa hiện thực khoa học
Có lẽ nhiều người thừa nhận rằng, những học thuyết khoa học xuất sắc nhất đã hé mở nhiều bí ẩn của thế giới vật chất. Nhưng ở rất nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử, có những học thuyết bị chứng tỏ là sai hoặc ngây thơ (naive).Bên cạnh những học thuyết khoa học tốt, có sức mạnh dự đoán (predictive power) dài lâu thì cũng có những học thuyết khoa học thật ngắn ngủi. Như vậy, chúng ta có nên nh
Bài 19: Hiểu về giác quan
Nếu nghĩ rằng thế giới quanh ta chỉ là một giấc mộng dài, hoặc tất cả bị điều khiển bởi một con quỷ đầy ma lực, thì đó chỉ là lo xa thái quá. Hằng ngày tôi vẫn thức dậy, tắm rửa, ăn sáng, bắt xe bus, tới văn phòng và bắt đầu làm việc. Mọi công đoạn, tôi đều phải dựa vào các giác quan (senses) của mình.Đa phần những công việc như vậy đều xảy ra một cách tự nhiên, không thật sự ý thức được tại sao.
Bài 18: Suy luận loại suy
Loại suy (analogy – phép tương tự) là một công cụ mạnh mẽ của lý luận quy nạp. Khi loại suy, chúng ta tiến hành so sánh những điểm tương đồng quan trọng của 2 sự vật – hiện tượng để rút ra kết luận. Nếu áp dụng điều này trong việc lý luận, chúng ta đang dùng một thủ pháp gọi là loại suy quy nạp (inductive analogy).Đây là một ví dụ:P1 : Ngày nay, những con vật nào có răng sắc nhọn thường là loài ăn
Bài 17: Khái quát hóa
Khi chúng ta đi từ những quan sát sự vật – hiện tượng đơn lẻ đến những kết luận chung cho cả nhóm sự vật – hiện tượng đó, chúng ta đang khái quát hóaVí dụ, tôi thấy những con thiên nga tôi từng gặp đều có màu trắng, tôi có thể khái quát hóa đến kết luận rằng tất cả các con thiên nga đều màu trắng. Đây là một lập luận, tôi có thể viết nó ra dưới dạng như thế này :P1 : Tôi đã từng trông thấy rất nhi
Bài 16: Lập luận quy nạp
Chúng ta đã được biết đến những lập luận có chứa các tiền đề và kết luận ở bài 1. Chúng ta cũng được biết rằng, nếu các kết luận được suy ra một cách logic từ các tiên đề thì lập luận đó là hợp lệ. Khái niệm HỢP LỆ, chỉ thật sự xuất hiện khi có một sự ĐẢM BẢO khi rút ra kết luận từ các tiên đề. Những lập luận kiểu này được gọi là lập luận diễn dịch.Hãy cùng nhau nhìn lại một ví dụ:P1: Tất cả những
Bài 15: Bản thể cá nhân (personal identity)
Vấn đề bản thể có ý nghĩa đặc biệt với con người là bởi con người không chỉ là những sinh vật sống tầm thường mà còn có nhiều đặc tính về tâm lý và tâm sinh lý khó có thể định nghĩa bằng đặc điểm vật lý đơn thuần.Ta có thể xem mỗi con người là một cá nhân có một quan điểm nhất định về thế giới, có mong muốn và khát vọng, có lịch sử riêng hàm chứa trong kí ức của anh ta, đồng thời có những xu hướng
Bài 14: Danh tính (identity)
Bạn còn nhớ từ giấy chứng minh thư (CMT) tiếng Anh gọi là gì chứ? Đó là: Identification Card hay ID Card. CMT là thứ giúp phân biệt mỗi cá nhân với những người khác, hay nói cách khác, nó giúp định danh bạn là ai trong số tất cả những con người trên thế giới này.Từ đó bạn có thể hình dung, vấn đề được bàn đến trong bài này, mang nghĩa là xác định cái danh tính, cái để giúp phân biệt đối tượng này
Bài 13: Khoa học của tâm trí
Đã bao giờ bạn thử phóng trí tưởng tượng của mình đến một viễn cảnh mà tâm trí không ảnh hưởng chút nào đến thể xác? Và làm sao tâm trí có thể kiểm soát xác thịt khi nó không có cơ bắp, hay thậm chí còn không cầm nắm được? Trong bài học này ta hãy cùng luyện tập các cách tư duy về vấn đề này.Khoa học tâm trí Một người ủng hộ thuyết nhị nguyên (dualism) không có nghĩa là người đó cho rằng không thu
Bài 12: Tâm trí và Thể xác
Ở bài này chúng ta sẽ đi sâu và làm rõ thêm lập luận của triết gia Descartes khi ông từng phát biểu thể xác và tâm trí là hai thứ hoàn toàn tách biệt. Và nếu tư duy và tâm trí tách biệt như những gì Descartes đã nói thì quan hệ giữa chúng là gì, hệ quả nào sẽ được suy ra từ chúng. Tất cả những chương mục trong bài này sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi ấy.Descartes cho rằng: chúng ta có thể biết đượ
Bài 11: Tôi tư duy nên tôi tồn tại
Bạn có biết một vài câu nói tưởng như đơn giản và ngắn gọn lại có sức lay động sâu sắc đến nền triết học cũng như rất nhiều ngành khoa học liên quan khác trên toàn thế giới? Ở đây, câu nói “tôi tư duy nên tôi tồn tại” của Descartes là một trong những câu nói như vậy. Qua bài học này chúng ta sẽ hiểu được tại sao câu nói súc tích ấy lại có tầm ảnh hưởng và nổi tiếng đến vậy, cũng như cách để hiểu đ
Bài 10: Ngụy biện thành phần và tổng thể
Khi chúng ta thảo luận về các chủ đề như bản chất của tâm trí, cái khả biến… một số kiểu ngụy biện theo đó sẽ xuất hiện. Ở bài này, hãy thử lướt qua một số phép ngụy biện ấy để tránh việc bị mắc phải.Ngụy biện tổng thể Đây là một kiểu ngụy biện sử dụng cái đúng của từng phần đơn lẻ để suy ra cái đúng của tổng thể. Sau đây một số ví dụ sẽ giúp bạn dễ dàng hình dung hơn:Ví dụ 1: Mỗi chương trong cuố
Bài 9: Điều kiện cần và đủ
Chắc hẳn nhiều người đã từng nghe đến khái niệm này ở bộ môn Toán. Đây chỉ là một cách nói ngắn gọn, đầy đủ phải gồm 3 loại: điều kiện cần, điều kiện đủ & điều kiện cần và đủ. Những khái niệm này cũng đóng vai trò rất quan trọng trong lý luận triết học. Chúng ta hãy tìm hiểu chúng trước khi áp dụng nó vào việc phân tích các lập luận triết học quan trọng.Khái niệm điều kiện cần, điều kiện đủ, đ
Bài 8: Câu điều kiện và Ngụy biện suy diễn
Đây là bài đầu tiên trong chuỗi những bài học thuộc phần 2: Tâm trí và thể xác. Trước khi đi vào hai đề mục nêu trên chúng ta sẽ làm quen một chút với các khái niệm quan trọng được nhắc đến nhiều lần trong phần này, đầu tiên là: câu điều kiện.Khái niệm câu điều kiệnChúng ta có thể hiểu đơn giản rằng câu điều kiện là loại câu dùng diễn tả hai vế: Giả thiết – Hệ quả.Đây là một loại câu vô cùng quan
Bài 7: Chủ nghĩa hoài nghi ngày nay
Chủ nghĩa hoài nghi ngày nay tồn tại như một đe dọa mà các nhà triết gia phải học cách sống chung với nó. Một số triết gia trong những năm gần đây đã phát triển một hướng tiếp cận gọi là “tiếp cận theo ngữ cảnh” (contextualist) để ứng phó với chủ nghĩa hoài nghi.Theo hướng này khi chúng ta không thể đáp ứng những tiêu chuẩn quá cao của chủ nghĩa hoài nghi trong việc định nghĩa tri thức ở ngữ cảnh
Bài 6: Chủ nghĩa hoài nghi
Ở những bài trước chúng ta đã tìm hiểu các cách tiếp cận khác nhau để định nghĩa tri thức theo mô hình JTB cùng những vấn đề phát sinh giữa những người theo chủ nghĩa nội liên kết, ngoại liên kết và chủ nghĩa thực dụng. Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu về một hướng tiếp cận tri thức khác đó là một hướng tiếp cận hoài nghi, hay còn được biết đến với cái tên hoài nghi chủ nghĩa.Chủ nghĩa hoài ngh
Bài 5: Lập luận lòng vòng
Lập luận vòng tròn là điều chúng ta bắt gặp khi cố gắng loại bỏ yếu tố may mắn ra khỏi quá trình định nghĩa tri thức theo JTB. Lập luận vòng tròn xuất hiện khi một người cố gắng bảo vệ nguồn kiến thức biện minh cho mình mà không dựa vào nguồn kiến thức đó trong cả quá trình biện minh.Ví dụ, khi bảo vệ quan điểm rằng sự nhận thức, trực giác và trí nhớ là những nguồn đáng tin cậy để sản sinh ra nhữn
Bài 4: Định nghĩa "tri thức" - những cách tiếp cận khác
Trong bài sự hồi quy vô tận, chúng ta dừng lại ở Duy bản luận. Và hẳn bạn vẫn chưa quên những người theo Duy bản luận luôn luôn ngăn chặn sự biện minh lại cũng như thuyết phục chúng ta rằng những gì họ tin chính là nền tảng và không thể đào sâu hơn được nữa. Tuy nhiên, cách tiếp cận ấy hẳn nhiên gây ra nhiều tranh cãi. Hơn hết, nó vẫn chưa phải cách thức duy nhất để định nghĩa về tri thức.Vấn đề J
Bài 3: Sự hồi quy vô tận
Với những điều đã học trong bài tri thức là gì? chúng ta biết một niềm tin được coi là đúng khi nó được biện minh bởi những lý lẽ xác thực. Nhưng những lý lẽ xác thực này lại phải đi ra từ một niềm tin đúng đắn đã được biện minh. Rồi niềm tin đúng đắn đã được biện minh của những lý lẽ xác thực lại phải tới từ những niềm tin đúng đã được biện minh khác… OH MY GOD! Làm sao để có thể dừng lại hay chí
Bài 2: Tri thức là gì?
Như đã kết thúc ở bài trước, để đánh giá một lập luận có thuyết phục hay không, ta phải biết về tính đúng đắn của các tiền đề. Nhưng như thế nào là đúng?Cấu trúc Modus PonensMột cấu trúc lập luận rất phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta là Modul Ponens. Cấu trúc của loại lập luận này diễn giải như sau:P1: Nếu P thì QP2: P đúngC: Q đúng Ví dụ 1: Nếu anh là người thì anh có trái tim. Anh
Bài 1: Lập luận là gì?
Trong bài đầu tiên của khóa học Triết học và Tư duy phản biện, chúng ta sẽ không đi ngay vào việc giải thích những khái niệm như tư duy hay phản biện mà bắt đầu từ nền tảng cơ bản nhất của quá trình hình tư duy, đó là lập luận.Tính thuyết phục của lập luậnĐối với triết học, lập luận như máu, nó giúp “nuôi sống” các niềm tin. Tuy nhiên, các niềm tin đúng đắn chỉ được tạo nên từ những lập luận đúng
Được đề xuất

CEO LAB

Chiều Sâu Tâm Thức

CHÙA LONG HƯƠNG - TT. THÍCH TUỆ HẢI

Chuyện đời Sales

Chuyện kể cho bé _ Cô Ủn Ỉn

Chuyện Ma ST | Chuyện Tâm Linh Sưu Tầm

Chuyện Xưa Cho Dễ Ngủ

Cô Kim Vui Vẻ - Kể Chuyện Cho Bé Trước Giờ Đi Ngủ - Đánh Thức Trí Thông Minh Cảm Xúc Của Bé

Cosmic Writer

Creator Việt Nam

Cuộc đời là phần thưởng

Đài Hà Nội | Đọc truyện đêm khuya